MỘT ĐAO PHỦ CHỨNG ĐƯỢC SƠ QUẢ.
Dù nói ra ngàn lời Nhưng rỗng không vô ích Chẳng bằng chỉ một lời Đầy nghĩa lý an vui. Có một kẻ được sinh ra với hình hài gớm ghiếc, hàm răng thì vàng ánh như màu đồng. Hắn quậy phá đến nỗi gia đình phải đuổi ra khỏi nhà. Hắn đi lang thang đây đó, cuối cùng xin gia nhập vào một băng cướp. Những ngày đầu, hắn chỉ làm chuyện lặt vặt nhưng càng về sau càng tàn bạo hơn, không thua gì những tay cướp đàn anh. Cũng vì quá căm phẫn băng cướp này, người dân liên tiếp báo lên quan phủ quan huyện, và các quan ở địa phương cũng trình báo về triều đình. Cuối cùng, vua cho quân lính đến bao vây. Trận đánh giữa quân triều đình và đám cướp rất dữ dội, chết một số, bắt sống được mấy trăm tên. Sau khi lấy cung, điều tra đầy đủ về tội ác của băng cướp, nhà vua đã hạ lệnh: - Những tên cướp không ai còn đáng sống, tất cả đều phải chịu án tử hình. Mấy trăm tên cướp được giải ra pháp trường. Dân chúng kéo lại đông đúc chờ đợi giây phút hành quyết. Tuy nhiên, không đao phủ nào dám chém một lúc mấy trăm tử tù cả, kể cả những đao phủ lâu năm. ""Đời tôi mười ngày chém một người, một tuần chém một người, chưa bao giờ chỉ trong một buổi sáng mà chém sạch hết mấy trăm cái đầu"". Mặt trời cứ lên cao dần, lệnh vua thì đã ban, nếu không xử tử hết số tù nhân này trong ngày hôm đó thì viên quan chắc chắn sẽ bị quở phạt. Ông lúng túng không biết làm sao, cứ quay qua quay lại hỏi hết những người lính đang cầm gươm giáo trong pháp trường: ""Trong số các ngươi, ai chịu chém hết những tên này?"" Tất cả đều sợ, chẳng ai đủ can đảm và đủ máu lạnh để cùng một lúc giết hàng trăm người. Viên quan lúng túng chưa biết giải quyết như thế nào thì bất chợt có người hiến kế: ""Hãy bảo tên chúa đảng - tên tàn bạo nhất giết tất cả đàn em của hắn, nếu vậy ta sẽ tha tội cho hắn"". Quan quân triều giải hắn đến nói: ""Hôm nay, tất cả các ngươi phải bị xử tử nhưng vì ta không có một đao phủ nào chém một lúc mấy trăm người nên ta sẽ ban cho ngươi một đặc ân. Nếu ngươi chém hết mấy trăm thủ hạ của ngươi thì ngươi sẽ được tha bổng"". Không ngờ tên chúa đảng này lại rất nghĩa khí, chính vì vậy đàn em mới sống chết theo y bao nhiêu năm qua. Y ngửa mặt lên trời cười khanh khách: ""Các ngươi có giết ta thì giết chứ đừng hòng bắt ta phải làm chuyện tiểu nhân như vậy"". Quan phải bó tay, đành cho y xuống quỳ bên dưới chờ chém đầu. Viên quan cứ đi qua đi lại, trên đầu nắng đã lên cao dần. Lúc đã quá bế tắc, ông chợt nhìn xuống đám cướp, phát hiện một gương mặt cực kỳ hung tợn. Tên này trước cái chết vẫn tỉnh bơ, đôi khi còn cười, mà mỗi lần cười thì hàm răng lại vàng óng lên như đồng. Ông liền cho gọi hắn đến và bảo: ""Nếu chịu chém hết mấy trăm huynh đệ trong băng đảng của ngươi, ngươi sẽ được tha bổng"". Hắn hồ hởi nhận lời ngay. Người ta đưa cho hắn một thanh đao sắc bén và hắn bắt đầu ra tay. Từng cái đầu rơi lịch bịch xuống đất. Đến khi đao đã mòn, hắn lại bảo hãy mang ra thanh đao bén hơn, cứ vậy cho đến khi chém sạch gần ba trăm người. Máu bắn ra ướt đẫm người hắn từ trên xuống dưới. Hắn cười hềnh hệch. Mỗi khi đói bụng thì tìm thứ gì bỏ bụng' rồi lại tiếp tục hành hình. Nhìn cảnh tượng chưa từng có, những người lính cầm giáo, cầm đao đứng trong pháp trường xỉu gần hết. Chỉ mình hắn là tỉnh bơ, mặt không hề biến sắc. Viên quan kia vừa mừng mà vừa run. Những khi đi đánh trận, ông cũng đã tiêu diệt quân giặc nhưng chưa bao giờ thấy kẻ máu lạnh nào có thể giết người đến mức độ này. Ông chợt nảy ra một sáng kiến: tử tù còn ứ đọng rất nhiều chưa được thi hành án, nay nhân dịp có tên đao phủ rất đặc biệt, ông quyết định xin phép cấp trên chém hết số tử tù này. Thế là ngày hôm sau tên đao phủ tiếp tục chém thêm gần một trăm tử tù nữa. Hắn lạnh lùng, bình thản giết sạch không còn người nào. Thành tích được báo cáo lên, vua liền phong cho hắn làm trưởng ban đao phủ. Từ đó, hắn chẳng những không bị kết tội cướp bóc mà còn có lương, có chức, có người hầu, chỉ làm duy nhất một việc là chém đầu phạm nhân. Sau bao nhiêu năm hành nghề đao phủ, tuổi già đã đến mà vị trí của hắn vẫn không ai thay thế được. Một lần, hắn theo lệnh chém mấy tử tù, thân nhân của họ xin mang xác về chôn. Sau đó, một số gia đình đã kiện hắn tại sao lại chém đến ba nhát để tử tù phải chết rất đau đớn. Cái chết lâu và đau đớn khiến họ phẫn uất kiện lên triều đình. Cuối cùng, nhà vua đành cho hắn nghỉ hưu. Ngày ra đi, hắn được cấp cho một số tiền kha khá. Sau bao nhiêu năm làm đao phủ, hắn đã có nhà của, có người hầu kẻ hạ, nhưng không có vợ vì chẳng ai dám cưới một người như hắn. Ngày đầu tiên về nhà, hắn đã mặc bộ đồ đẹp, thắp nhang, xông hương trầm và bảo người hầu nấu nồi cháo sữa với mật ong thật ngon cùng một số loại bánh. Hắn ngồi thưởng thức, xem đây là giây phút thanh thản nghỉ ngơi, tận hưởng tuổi già. Hôm đó, ngài Xá Lợi Phất thấy duyên hóa độ cho người này đã đến. Khi đi khất thực, ngài không đi qua con đường bình thường mà băng nhanh đến nhà của viên đao phủ, rồi lặng lẽ ôm bình bát dừng lại trước cửa. Chợt thấy một vị Sa môn đang đi khất thực bên ngoài mà dung mạo trang nghiêm đẹp đẽ, bất giác người đao phủ này sinh lòng kính trọng. Ông không biết cúng dường là gì, chỉ nghe mang máng rằng có tục lệ khi một Sa môn đứng ở ngoài cửa thì hãy mang thức ăn ra cho vị ấy và sẽ được công đức. Thế là ông bê tô cháo mật với sữa ra xin được sớt vào bát cho ngài. Không biết có phải vì duyên lành từ kiếp xưa hay không mà ông còn thỉnh ngài ngồi thọ thực, thậm chí kiên nhẫn đứng quạt cho ngài. Dù vậy, ông vẫn động tâm thèm thuồng vì chưa bao giờ được ăn món ngon, hôm nay có được món ngon nhất lại để dành cho ngài. Biết tâm ông, ngài ngồi lặng lẽ dùng hết bát cháo mật rồi bảo ông hãy ăn. Ông xin phép ngồi dùng bữa, sai gia nhân dọn phần còn lại cho mình. Khi ông đã ăn no, ngài Xá Lợi Phất mới chúc lành cho ông: - Mọi chuyện trên đời đều có nhân quả. Ta gieo nhân nào sẽ gặt quả đó. Ai hiểu được nhân quả mà giữ mình cho trong sạch thì người ấy đã đặt được niềm tin vào Phật, vào Pháp, vào Tăng và cuộc đời người ấy sẽ đi trên nẻo lành. Ta chúc ông tin được nhân quả, tin được Tam Bảo để đời ông thoát được cảnh khổ. Sau lời nói của ngài, mặt ông tái nhợt. Ông chợt nhớ lại số người mà mình đã giết trong suốt cuộc đời từ lúc làm kẻ cướp cho đến khi làm đao phủ và bắt đầu sợ hãi, mồ hôi chảy ròng ròng. Ông run rẩy nói: - Thưa tôn giả, trong cuộc đời con đã giết người quá nhiều. - Ông đã giết người do tự ý hay do ai sai bảo? - Thưa, do quan ra lệnh. - Dù sao ông cũng làm theo lệnh của người trên và ta chấp nhận rằng ông trong sạch. Hãy yên tâm. Tất cả đều có nhân quả. Ông hãy bình thản đón nhận nhân quả của đời mình. Hãy đặt niềm tin nơi luật Nhân Quả. Hãy đặt niềm tin vào ba ngôi báu Phật, Pháp, Tăng. Ta chúc cho ông được mọi điều tốt lành. Ông ngồi bình tâm lại rồi bất ngờ chứng Thánh quả Tu đà hoàn. Từ đây, ông như bước qua một đời sống mới, tâm thức hoàn toàn thay đổi, tâm hồn trở nên thánh thiện. Khi ngài Xá Lợi Phất từ giã ra về, ông xin phép được tiễn Ngài một đoạn đường. Ông đỡ lấy bình bát, đưa Ngài đi bằng lòng thành kính hết mực của một người đã chứng Tu đà hoàn, niềm tin kính đối với Phật, Pháp, Tăng trong ông đã trở thành vô hạn. Ông cứ quyến luyến mãi không chịu về. Gần đến tinh xá, Ngài quay lại nói với ông: - Thôi ông quay về đi, hãy đưa bát cho ta. Ông quỳ xuống dâng bát cho Ngài, đảnh lễ ba lễ, đi diễu quanh ngài ba vòng rồi mới ra về. Đi được nửa đường thì bất ngờ có con quỷ dạ xoa nhập vào một con bò chạy đến húc làm ông ngã xuống giữa đường. Ông qua đời ngay tại đó. Ngài Xá Lợi Phất bảo các cư sĩ hãy chôn cất ông đàng hoàng vì ông đã chứng Thánh. Tin đồn lan ra khắp nơi, mọi người rất ngạc nhiên, kể cả các vị tỳ kheo cũng lao xao. Các vị đến trình với Phật rằng có sự kiện như thế, một kẻ cả đời đã giết người với gương mặt lạnh lùng không biến sắc, nhưng chỉ nhận hai câu chúc lành của ngài Xá Lợi Phất là đã được chứng quả. Nghe câu đầu tiên ông chưa yên lòng nhưng đến câu thứ hai tâm ông đã an lạc, được nhập vào dòng Thánh. Trong khi nhiều tỳ kheo đã theo Phật bao nhiêu năm, nghe Phật giảng rất nhiều bài nhưng vẫn chưa bước vào được Thánh quả Tu đà hoàn, làm sao một tay đao phủ có thể chứng nhanh như thế? Đức Phật trả lời rằng, các ông đừng đo lường giáo pháp của Như Lai bằng số lượng bài giảng, dù nói ra rất nhiều mà không đúng thời, không đúng duyên, không đầy đủ ý nghĩa thì chẳng bằng nói một lời mà đầy đủ ý nghĩa, đúng duyên, đúng lúc, mang lại niềm tịnh lạc, an vui. Rồi Phật nói bài kệ: Dẫu nói ra ngàn lời Nhưng rỗng không vô ích Chẳng bằng chỉ một lời Đầy nghĩa lý, an vui. Trích sách ""Những điều thú vị từ truyện tích Pháp Cú 7"" trang 51"

